KIẾN THỨC VỀ BUSINESS MODEL CANVAS

Bài viết này sẽ giới thiệu về Business Model Canvas (BMC), một công cụ xây dựng mô hình kinh doanh được thiết kế bởi tiến sĩ Alexander Osterwalder. BMC đã trở thành một công cụ mạnh mẽ giúp cho cả doanh nghiệp startup lẫn doanh nghiệp lâu năm hình thành những chiến lược thông minh, cụ thể và thành công.

GIỚI THIỆU VỀ BUSINESS MODEL CANVAS (BMC)

Business model canvas (BMC) là một cách thể hiện thông tin về các nhân tố đầu vào tạo nên chuỗi giá trị của một doanh nghiệp dưới dạng hình ảnh, được sử dụng rộng rộng rãi trong quá trình xây dựng, hoạch định một doanh nghiệp mới. Ngoài ra, thì nó cũng được sử dụng để phân tích tình hình kinh doanh hiện tại của công ty.

bán hàng

Building in a hand businessmen

Business model canvas (BMC) được phát triển bởi chuyên gia quản trị người Thuỵ Điển Alexander Osterwalder. Ông đã sử dụng 9 nhóm nhân tố chính cấu thành nên BMC, mà ông hàm ý chúng chính là 9 trụ cột tạo nên tổ chức của một công ty, gồm có: Đối tác chính, Hoạt động kinh doanh chính, Nguồn lực chính, Giá trị thặng dư, Quan hệ khách hàng, Kênh thông tin và Phân phối, Phân khúc khách hàng, Cơ cấu chi phí và Dòng doanh thu.

BUSINESS MODEL CANVAS (BMC) – MỘT CÔNG CỤ TRỰC QUAN

Hiệu suất kinh doanh của một công ty có thể dễ dàng được cải thiện bằng cách áp dụng BMC. Chỉ qua một cái nhìn, tất cả các khía cạnh liên quan đều được trình bày rõ ràng nhờ các mô phỏng trưc quan. Bằng cách nhìn vào sự phát triển của từng thành tố, một doanh nghiệp có thể tinh chỉnh các giá trị mà mình cung cấp cho khách hàng và cải thiện các chiến lược của mình một cách có tổ chức. Trong khi đó, nếu sử dụng công cụ này để ra một doanh nghiệp mới thì các nhà chủ doanh nghiệp có thể hoạch định ngay từ đầu một loạt các quyết định chiến lược quan trọng thông qua việc sử dụng công cụ đó.

1. ĐỐI TÁC CHÍNH

Dù với doanh nghiệp startup hay doanh nghiệp đã thành lập lâu năm thì việc tạo dựng liên minh với các đối tác là điều rất quan trọng. Chẳng hạn như khi các công ty phải liên minh với nhau để chiến đấu với đối thủ cạnh tranh và kết hợp kiến thức và chuyên môn với nhau. Doanh nghiệp có thể thu về các thông tin quan trọng thông qua chính những sự liên minh này, bằng việc xác định ngay từ đầu những đối tác nào sẽ đem lại giá trị và những mối quan hệ đó có giá trị như thế nào.

2. CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHÍNH

Bằng việc nhận biết đúng về các hoạt động nòng cốt của công ty, chúng ta sẽ hiểu đúng các giá trị thặng dư mà doanh nghiệp có thể đưa ra thị trường. Điều này không chỉ nói  về sản xuất ra những sản phẩm như thế nào, mà nó còn đề cập đến cái cách mà doanh nghiệp tiếp cận với vấn đề giải quyết vấn đề của thị trường, cách kết nối (networking) ra sao, chất lượng của sản phẩm đầu ra hoặc dịch vụ đầu ra của doanh nghiệp là gì. Khi tổ chức xác định được giá trị gia tăng mà mình cung cấp cho khách hàng là gì, họ có thể dễ dàng phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các khách hàng hiện tại, do đó, điều này có thể hữu ích trong việc thu hút khách hàng mới. Đây cũng được coi là hành động giúp doanh nghiệp tránh các tổn thất gây ra từ việc phải cạnh tranh với đối thủ dễ dàng hơn.

3. CÁC NGUỒN LỰC CHÍNH

Các nguồn lực đầu vào chính là trái tim, nòng cốt của việc sản phẩm đầu ra như thế nào.  Các nguồn lực này có thể được phân loại thành: nguồn lực vật chất, trí tuệ, tài chính và nhân lực. Nguồn lực vật chất có thể bao gồm các tài sản như các trang thiết bị phục vụ kinh doanh. Nguồn lực trí tuệ bao gồm từ kiến thức, thương hiệu đến các bằng sáng chế. Các nguồn lực tài chính liên quan đến dòng vốn, nguồn thu nhập và nguồn nhân lực bao gồm các khía cạnh về nhân sự.

4. GIÁ TRỊ CUNG CẤP CHO KHÁCH HÀNG

Xác nhận giá trị nghĩa là lý do cốt lõi để công ty tồn tại, giá trị này chính là nhằm đáp ứng nhu cầu từ phía khách hàng. Doanh nghiệp này khác biệt so với đối thủ cùng ngành như thế nào? Những khác biệt này một mặt tập trung vào những yếu tố có thể định lượng được như giá, dịch vụ, tốc độ và điều kiện giao hàng. Mặt khác, nó cũng tập trung vào những yếu tố có thể định tính bao gồm thiết kế, trạng thái thương hiệu và trải nghiệm cũng như sự hài lòng của khách hàng.

5. QUAN HỆ KHÁCH HÀNG

Tương tác với khách hàng là điều rất cần thiết. Cơ sở dữ liệu càng rộng thì doanh nghiệp càng cần chú trọng việc phân chia khách hàng thành các nhóm mục tiêu khác nhau. Mỗi nhóm khách hàng có một nhu cầu khác nhau. Bằng cách dự đoán các nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ đầu tư vào các nhóm khách hàng khác nhau. Một dịch vụ tốt sẽ đảm bảo cho quan hệ khách hàng vừa bền vững mà lại tốt đẹp và có thể duy trì trong tương lai.

6. CÁC KÊNH THÔNG TIN VÀ PHÂN PHỐI

Một công ty phải giải quyết các vấn đề về truyền thông, phân phối và các kênh bán hàng. Điều này không chỉ là về việc liên lạc với khách hàng và cách thức mà công ty giao tiếp với khách hàng của họ. Các địa điểm mua sắm và phân phối các sản phẩm và dịch vụ cung cấp là yếu tố quyết định. Các kênh đến với khách hàng theo năm giai đoạn khác nhau: nhận thức về sản phẩm, mua hàng, giao hàng, đánh giá và sự hài lòng, cuối cùng là dịch vụ hậu mãi. Để tận dụng tốt các kênh và tiếp cận nhiều khách hàng nhất có thể, các kênh của doanh nghiệp nên được kết hợp giữa các kênh offline (cửa hàng) và trực tuyến (web bán hàng).

7. PHÂN KHÚC KHÁCH HÀNG

Vì một tổ chức phải phục vụ nhiều nhóm khách hàng vậy nên các doanh nghiệp nên chia họ thành các phân khúc khác nhau. Bằng cách xác định các nhu cầu và yêu cầu cụ thể của từng nhóm khách hàng và giá trị mà họ gắn kết, mà các sản phẩm và dịch vụ có thể được “may đo cắt thửa” để phục vụ tốt hơn cho các nhu cầu này. Điều này sẽ khiến khách hàng hài lòng hơn, từ đó quay lại củng cố giá trị thặng dư cho khách hàng.

8. CƠ CẤU CHI PHÍ

Khi có một cái nhìn sâu sắc vào cơ cấu chi phí, doanh nghiệp sẽ biết doanh thu tối thiểu phải có để tạo ra lợi nhuận là bao nhiều. Cơ cấu chi phí xét đến khả năng mở rộng quy mô, định phí (constant cost) và biến phí (variable cost) cũng như các lợi thế về lợi nhuận. Nếu thông qua cơ cấu chi phí, doanh nghiệp thấy rằng mình đang đầu tư nhiều hơn so với mức doanh thu mà nó đang tự tạo ra, thì nghiễm nhiên là chủ doanh nghiệp sẽ nhìn thấy là họ cần phải thay đổi về kết cấu của chi phí. Thường thì nếu chuyện này xảy ra thì công ty sẽ quay lại yếu tố nguồn lực để cơ cấu lại và giảm thiểu một loạt các yếu tố trong đó nhằm điều chỉnh lại dòng thu và dòng chi.

9. DÒNG DOANH THU

Ngoài cơ cấu chi phí, dòng doanh thu sẽ đem lại một cái nhìn rõ ràng vào các mô hình doanh thu của doanh nghiệp. Ví dụ, công ty cần có bao nhiêu khách hàng trên cơ sở hàng năm để tạo ra lợi nhuận? Doanh nghiệp cần doanh thu bao nhiêu để hoà vốn? Dòng doanh thu là công cụ điều chỉnh chi phí. Ngoài doanh thu từ việc bán hàng hoá, lệ phí đăng ký, thu nhập cho thuê, cấp giấy phép, tài trợ và quảng cáo cũng có thể là một nguồn thu.

SỨC MẠNH CỦA QUÁ TRÌNH BRAINSTORMING ĐỂ HOÀN THIỆN BUSINESS MODEL CANVAS (BMC)

Tất cả các thành viên của đội ngũ quản lý đều là những đối tượng đóng góp cho quá trình xây dựng Business Model Canvas của doanh nghiệp. Bằng cách phác thảo mô hình lên các tờ giấy lớn, các thành viên có thể động não với nhau, suy nghĩ về các ô thành tố trong BMC và đưa ra ý kiến của mình. Điều này sẽ tạo ra một cái nhìn chung về doanh nghiệp giữa ban giám đốc, cái nhìn này vừa khách quan vừa tạo điều kiện cho những ý tưởng mới có thể được thảo luận và được đưa ra ngay lập tức và ngay trong quá trình phát triển.

Bí kíp bán hàng: Đừng bao giờ tập trung rút tiền từ ví khách hàng

Bán hàng là một công việc quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Để bán hàng thành công trong bất cứ hoàn cảnh nào, cần nắm được những nguyên tắc mấu chốt. Và người bán hàng giỏi là người hiểu và áp dụng những nguyên tắc đó một các hoàn hảo.

Tại chương trình “Những tuyệt chiêu bán hàng chưa được tiết lộ” diễn ra ở Hà Nội, doanh nhân Tạ Minh Tuấn đã bật mí những điều căn bản để thành công trong mọi hoạt động bán hàng như bán sản phẩm, gọi vốn đầu tư…

Những bí quyết đến từ doanh nhân Tạ Minh Tuấn có thể là cẩm nang rất tốt cho những người đã và đang làm những công việc liên quan đến bán hàng hiện nay. Đây có thể coi là những bí kíp bán hàng thông minh và hiệu quả, được đúc rút từ trải nghiệm thực tế của CEO Tạ Minh Tuấn.

Nền tảng của bán hàng thành công

Đa phần những người bán hàng không thất bại mà ở ngoài thị trường mà thất bại ở trong tâm trí trước, tức là từ trong tư duy của họ. Bởi vì nền tảng của tất cả mọi thành công có 3 cấp bậc:

– Thái độ

– Kiến thức

– Kỹ năng

Thông thường, mọi người không phải vì thiếu kỹ năng hay vì không đủ kiến thức mà thường thất bại trong thái độ vì người ta cảm thấy bị mắc kẹt về mặt tâm lý. Người bán hàng không bán được hàng do tâm lý chứ không phải do kỹ năng. Họ không hiểu được tại sao phải bán món hàng này? Tại sao là lại mình? Tại sao là món hàng này? Tại sao là người đó? Tại sao tôi lại có cảm giác khó chịu này?…

skill sale

Và họ chưa xử lý được, chưa giải đáp được những câu hỏi đó bằng thái độ của mình.

Có một điều mà tất cả những người muốn bán hàng cần phải ghi nhớ là: Bán hàng (Sale) là Giúp đỡ (Help). Công thức:

Sale = Help.

Một khi bạn bán hàng để giúp đỡ người khác là bạn đã vượt qua tâm được tâm lý trên. Điểm mấu chốt khi bán hàng là: Đừng bao giờ cho rằng bạn đang muốn lấy tiền từ người ta, đừng bao giờ chăm chăm rút tiền từ túi người khác, đừng bao giờ hướng tới mục tiêu là tiền bạc. Mà bạn hãy hướng mục tiêu đến một cái gì đó vượt qua cả tiền bạc. Khi đó, bạn bán hàng cho khách hàng thì tâm lý khi bạn nói ra cực kỳ dễ dàng. Còn nếu bạn chỉ chú ý vào việc lấy tiền của người khác thì bạn nói ra càng khó khăn, bạn dễ thất bại và chán nản.

Để bán hàng với tâm lý giúp đỡ được người khác, có 4 cấp độ từ thấp đến cao như sau:

  • Cho khách hàng “con cá”: Cho họ giá trị vật chất. Tuy nhiên khi cho rồi, người ta dùng hết thì lại cần bạn cho tiếp.
  • Bán cho khách hàng cái cần câu để họ tự câu: Bạn cho họ phương pháp, kỹ năng để kiếm được tiền. Cách này có hạn chế ở chỗ là khách hàng không có kỹ năng đi câu.
  • Dạy cho khách hàng kỹ năng đi câu, từ sản phẩm đến hệ thống, dịch vụ. Nhưng khi họ có cần câu, kỹ năng rồi mà không có động lực đi câu thì vẫn chưa đủ. Bởi vì sự thật rất nhiều người nghèo là vì lười biếng, không đủ kiên trì, không chịu khó, không có động lực để thành công dù kiến thức, kỹ năng và những người thầy đã có sẵn ở đó.
  • Truyền cho khách hàng động lực: Đỉnh cao của bán hàng không phải là bán sản phẩm mà bán một giấc mơ. Ở cấp độ này, khi bán hàng, bạn cho người ta một động cơ, một động lực đủ lớn. Đây chính là điểm cốt lõi của bán hàng.

Người bán hàng giỏi không nhằm vào việc lấy được tiền từ ví khách hàng

Vận dụng nguyên tắc Âm – Dương trong bán hàng

Nguyên tắc âm dương: Nói về cách hành xử của bạn với khách hàng, tức là với những đối tượng khách hàng khác nhau, bạn sẽ có cách ứng xử phù hợp.

Dưới đây là những gợi ý cho bạn khi ứng xử với một số đối tượng khách hàng:

– Nếu khách hàng nhát gan thì bạn hù dọa.

– Nếu khách hàng do dự thì bạn phải quyết đoán.

– Nếu khách hàng quyết đoán thì bạn sẽ năn nỉ.

Bán hàng là một nghệ thuật đòi hỏi bạn cần phải rèn luyện, trau dồi mỗi ngày. Khi nắm được những nguyên tắc căn bản và bí quyết mấu chốt, bạn cần đưa vào thực tế để áp dụng thì kết quả mới được thể hiện trong công việc của bạn.

Stitch Fix: Thay đổi cách phụ nữ mua quần áo

Với những người rất ghét mua sắm, lại không an tâm với những bộ trang phục “ảo” trên mạng Internet, truy cập vào trang web của Stitch Fix, trả lời vài câu hỏi và chờ đợi hàng thử đến tận nhà là một xu hướng mới nổi lên ở nước Mỹ trong vài năm gần đây.

7 điều không nên nói ra trong bán hàng
4 xu hướng tiêu dùng sẽ định hình lại thị trường bán lẻ Việt Nam

 

Công ty có trụ sở ở San Francisco mới thành lập từ năm 2011 bởi Katrina Lake có thể giúp loại bỏ phần khó khăn nhất của một công cuộc mua sắm: lựa chọn. Với dịch vụ tiện ích, phụ nữ không cần phải bước chân vào bên trong cửa hàng hay duyệt trang web để tìm những bộ trang phụ mình ưa thích.
Dựa trên bộ dữ liệu câu hỏi 10 phút về sở thích, phong cách, chiều cao, trọng lượng, hình thể, chất liệu, những phần cơ thể muốn phô diễn, chia sẻ hình ảnh Pinterest tập hợp những phong cách ưa thích… đặt ra cho khách hàng, nhà tạo mẫu lựa ra những bộ quần áo đến từ hơn 200 thương hiệu (6 trong số đó là độc quyền) sao cho hợp thời trang nhất, đóng gói lại về gửi đến nhà hàng tháng. Khách hàng có thể thử quần áo tại nhà và gửi lại bất kỳ bộ nào họ không muốn. Với mỗi bộ được giữ lại, khách hàng sẽ phải trả 10 USD cho phí chọn lựa, phối đồ, và cần trả những đồ không muốn còn lại trong ba ngày về cho công ty một cách nguyên vẹn. Nếu mua tất cả một đơn hàng 5 bộ, khách hàng sẽ được giảm giá 25%.
Ảnh: Business Insider
CEO Katrina Lake từng là nhà tư vấn cho khách hàng của Kohl’s và Applebee’s, từng quản lý trang blog của Polyvore trước khi đến trường Harvard với mục tiêu tự kinh doanh và thu hút vốn. Cô đã thực hiện được cả hai. Từ 750.000 USD của Steve Anderson thuộc Baseline Ventures, 4,75 triệu USD của Baseline và Lightspeed Venture Partners, 12 triệu USD của Benchmark Capital…, Stitch Fix ra đời, loại bỏ mọi sự phiền toái của việc lựa chọn quần áo khiến chỉ em có thể mất đến cả nửa ngày trời. Chỉ ba tháng sau khi chuyến giao hàng đầu tiên, 70% khách hàng đã gọi đặt hàng lần thứ hai. Khi công ty ngày càng phát triển, quy mô khách hàng mở rộng sang cả nhóm tiêu dùng đại chúng, chi phí trung bình hiện nay cho mỗi bộ hiện nay đã xuống là 55 USD, giảm 10 USD so với khi mới ra mắt.
Tuy nhiên, theo sự khẳng định của Lake, Stitch Fix sẽ không phải là một nhà bán lẻ hàng giảm giá, bởi công ty muốn giúp mọi người tìm thấy sản phẩm phù hợp nhất cho phong cách họ mong muốn và mức giá họ có thể chấp nhận. Khách hàng của Stitch Fix trải rộng từ trẻ tới già, nhưng nhóm khách hàng cốt lõi hiện nay là những phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến dưới 40, đặc biệt là các bà mẹ bận rộn, quan tâm đến những trang blog mẹo vặt, nấu ăn và hàng thủ công.
Ảnh: Business Insider
Lake cũng không nói nhiều về doanh thu của công ty, nhưng lượng nhân viên của  Stitch Fix đã tăng lên nhanh chóng. Từ 200 nhân viên năm 2013 đã lên đến 1.500 người (cả chính thức và bán thời gian) làm ở trụ sở ở San Francisco, chi nhánh ở Austin,  Pittsburgh, Nam San Francisco và Indianapolis, trong đó có cả những người từng làm ở nhiều công ty bán lẻ nổi tiếng khác như Wal-Mart, Sephora, Gap, Banana Republic, Netflix, Nike, Crate & Barrel, Stella & Dot và Lululemon. Tuy nhiên, dù vấn đề mở rộng sẽ được thực hiện trong tương lai, nhưng trong ngắn hạn, công ty chưa có ý định mở sang phân khúc ngoại cỡ, thời trang nam giới và trẻ em, bởi Lake thấy rằng: trước khi mở rộng về quy mô, đảm bảo được chất lượng những gì đã thậm chí còn quan trọng hơn. Đây là một sự lựa chọn đúng đắn, khi công ty vẫn còn vấp phải một số sai sót, chẳng hạn đã có khách hàng phàn nàn gói đồ của Stitch bị gắn giá quá đắt (lên tới 150%) so với sản phẩm ở những nơi khác. Trong lúc chờ đợi một phiên bản Stitch Fix cho nam giới, các quý ông có thể ghé qua Trunk Club với dịch vụ tương tự, nhưng dành cho đấng mày râu và giá trung bình cao hơn.
Songmoi.vn

4 xu hướng tiêu dùng sẽ định hình lại thị trường bán lẻ Việt Nam

Điểm chung lớn nhất giữa trung tâm thương mại “xác sống” hay những cửa hàng đông người ra vào nằm ở chỗ: chúng đều là kết quả của xu hướng tiêu dùng và khả năng nắm bắt thông tin cũng như biến thông tin thành hành động của nhà bán lẻ. Tại cuộc toạ đàm “Chuỗi cửa hàng tiện lợi và siêu thị mini tại Việt Nam: Sự bùng nổ và thách thức” do Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt nam tổ chức diễn ra vào sáng 29/5, bà Nguyễn Hương Quỳnh – Giám đốc cấp cao bộ phận dịch vụ đo lường bán lẻ công ty Nielsen Việt Nam – đã đưa ra 4 xu hướng tiêu dùng chính đang dần thay đổi bộ mặt bán lẻ của Việt Nam hiện nay.

Có khả năng chi tiêu nhiều hơn trong mua sắm Chi tieu
Thời gian qua, việc chỉ số CPI tăng thấp, có tháng thậm chí giảm, cùng với nhiều hoạt động kích cầu của Chính phủ đã cho thấy sức mua của người Việt Nam đang yếu. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ không phải người tiêu dùng không có khả năng mua, mà là không sẵn sàng mua. Theo báo cáo của Nielsen, Việt Nam thuộc nhóm các nước tiết kiệm nhất thế giới với tỷ lệ cao nhất khu vực Đông Nam Á – 78%. Song bên cạnh việc dành một phần thu nhập cho tiết kiệm, thì 44% và 40% những người được khảo sát còn muốn dành một phần tiền kiếm được vào du lịch, nghỉ dưỡng và các sản phẩm công nghệ mới. Đặc biệt, trong khi du lịch Việt Nam khốn đốn với lượng khách quốc tế sụt giảm nghiêm trọng, khách nội địa tăng trưởng không bền vững thì ngày càng nhiều khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài với tăng trưởng đều đặn mỗi năm 10%.
Theo báo cáo của Nielsen, sự suy giảm của sức mua sẽ được thay đổi trong tương lai nhờ sự phát triển của tầng lớp trung lưu. Ước tính, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam sẽ tăng gấp đôi trong năm 2020, từ 12 triệu người năm 2014 lên 33 triệu người năm 2020. Mỗi tháng, tỷ lệ chi tiêu tăng 3,4% (2012 so với 2010) và có đến 73% người tiêu dùng sẵn sàng chi trả để có chất lượng dịch vụ/sản phẩm cao.
Như vậy, không phải người Việt Nam không có khả năng mua sắm, mà là sản phẩm/dịch vụ trong nước chưa kích thích được người tiêu dùng bỏ tiền ra. Khi khả năng chi tiêu tăng lên, quyền lực của người tiêu dùng cũng gia tăng, và đòi hỏi ngày càng cao: sản phẩm/dịch vụ tốt hơn, đa dạng hơn, mới mẻ hơn nhưng giá cả phải tương xứng. Nhưng rõ ràng, hàng Việt Nam chưa thuyết phục được chính người Việt Nam bỏ đi tâm lý “sính ngoại” khi còn để nhiều “cái bẫy” rình rập.
Mua sắm cho nhu cầu bản thân
Nếu trước đây hỏi người Việt Nam “Anh/Chị mua sắm cho ai?” thì câu trả lời thường là: “Tôi mua sắm cho gia đình tôi”; “Tôi mua sắm cho các con tôi”… Nhưng bây giờ, cũng câu hỏi đó,  họ không chỉ mua sắm cho gia đình nữa, mà là nhu cầu mua sắm cá nhân đang ngày càng gia tăng. Điều này một phần đến từ quy mô hộ gia đình đang nhỏ lại. Năm 2000, tỷ lệ số người trung bình trên một hộ gia đình là 4,4 khi có hai, ba, thậm chí bốn thế hệ cùng chung sống. Song đến năm 2015, tỷ lệ này ước tính chỉ còn 3,8, với sự gia tăng đáng kể các gia đình chỉ có hai thế hệ, một thế hệ, thậm chí độc thân đang ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, một quan điểm mới đang hình thành rõ nét ở khu vực thành thị. Trước kia, chúng ta luôn chi tiêu tiết kiệm với ba mục đích chính: đề phòng sự cố bất ngờ, chi tiêu về già và để lại cho con cái. Mục đích thứ hai thường mờ nhạt hơn do con cái vốn được coi là của để dành của cha mẹ. Nhưng ngày nay, quan điểm đã thay đổi theo sự xâm nhập của văn hóa lối sống bên ngoài: càng cao tuổi, người tiêu dùng càng tích lũy được nhiều tiền (nếu hồi trẻ họ không phải là một tay phung phí), dưới sự tác động của tâm lý “hồi xuân”, họ chi tiêu mạnh mẽ cho các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng và hàng mỹ phẩm.
Không ngừng “di chuyển”
Ban ron
Người tiêu dùng thích mua sắm, nhưng họ đang ngày càng bận rộn, quỹ thời gian càng ngày càng eo hẹp lại, và họ không ngừng di chuyển. Do đó, họ muốn những sản phẩm/dịch vụ tiện ích nhất, nhanh nhất, có thể sử dụng ngay lập tức. Cùng với mối quan tâm đặc biệt đến sức khỏe (39% xem sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu), điều này sẽ đặt ra bài toán cho ngành bán lẻ thực phẩm: đồ ăn nhẹ có thể dùng ngay mà vẫn lành mạnh. Xu hướng này đang được các đại gia fastfood, chẳng hạn McDonald’s, thúc đẩy nhằm cải thiện hình ảnh của mình sau hàng loạt cáo buộc liên quan đến bệnh béo phì, thừa cân. Sự thành công của Whole Foods trên đất Mỹ với danh hiệu “Cửa hàng thực phẩm lành mạnh nhất nước Mỹ” hay chiến lược đồ ăn vặt lành mạnh của 7-Eleven càng cho thấy dù là siêu thị, đại siêu thị hay những cửa hàng tiện ích nhỏ lẻ đều không thể né tránh khỏi xu hướng này.
Nhu cầu được kết nối với thế giới
Người tiêu dùng Việt Nam kết nối với trào lưu thế giới ngày càng nhanh và nhiều. Với thời gian “sống ảo” trung bình vào khoảng 15,5 tiếng/tuần, người tiêu dùng giờ đây đã có thể cập nhật rất nhanh chóng xu hướng đang diễn ra trên thế giới, và không muốn mình trở thành kẻ lạc hậu. Họ sẽ không ngồi chờ chương trình thời sự 19h hàng ngày để biết được thế giới đang có gì diễn ra. Vài năm trước, tin nhắn SMS, cuộc gọi điện trực tiếp hay email là những phương thức liên lạc phổ biến có thể lựa chọn, nhưng ngày nay, người tiêu dùng đã có thêm nhiều công cụ phổ thông mới như MMS, ứng dụng nhắn tin, blog, mạng xã hội.
Với nhận định về 4 xu hướng thay đổi này, ngành bán lẻ của Việt Nam sẽ phải có những bước chuyển mình để đáp ứng phù hợp với một tâm lý tiêu dùng mới.
Theo Songmoi

 

1 2